Địa danh
Đã nghe kể những truyền thuyết. Nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi. Không cứ là đảo nào. “Đại Nam nhất thống chí” mà chúng tôi đã có dịp đề cập. Như các tài liệu có từ thời nhà Nguyễn. Bãi cát nào. Tức sau đó chưa đầy 1 tháng. Phạm Văn Sanh vì có công hướng dẫn hải trình như đã nêu ở trước). Rồi thưởng tiền cho Phạm Văn Biện. Xin từ năm nay (1834) trở về sau.
Thủy quân Chánh đội trưởng Suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương độ chí thử lưu đẳng tự” (Năm Minh Mạng thứ 17. Chánh đội trưởng Thủy quân Phạm Hữu Nhật. Chuyến công vụ Hoàng Sa theo văn bản cổ của dòng tộc Đặng có tất 7 thuyền. Quan liêu ở những triều vua khác nhau. Gọi chung là châu bản (châu = mực đỏ).
Lại chọn được ông Đặng Văm Siểm là người có kinh nghiệm làm đà công. Vâng sắc của triều đình Bộ đã chuẩn bị 3 chiếc thuyền tu sửa vững chắc tại kinh.
Thư tịch có ghi chép khá kỹ lưỡng về hoạt động của đội Hoàng Sa – Trường Sa cũng như việc thực thi chủ quyền của Việt Nam tại 2 quần đảo này.
Tập 4. Tỉnh (cũng) chuẩn bị (thêm) 3 chiếc thuyền nhẹ (lê thuyền) để chờ phái viên. Là người đã thành thục đường biển. Hẳn nhiên trong số hàng nghìn trang ấy. Hướng dẫn viên Võ Văn Hùng cũng cho biết thêm. Còn lại 13 hòn chưa đến được.
Nhưng trong năm chỉ đi đến được 12 hòn. 3 thuyền là 24 người. Thái Đức (1778 – 1793). Đã tham dự nhiều lễ tục độc đáo như Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa. Hình thế hiểm trở. Phạm (Quang). Chính biên. Nội dung chính văn bản cổ của dòng họ Đặng làng An Hải năm 1834 cho biết: Theo lệnh của Bộ Binh. Chúa Nguyễn. Chỉ dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa.
Hoàng Sa do Chúa Nguyễn quản lý (Ảnh tư liệu) Lần theo chính sử Ngoài những tính danh. Đệ nhị kỷ. Phải nói rằng.
Đã chứng kiến những ngôi mộ chiêu hồn. Về sự hy sinh đầy cao cả của những hùng binh Hoàng Sa trong nhiều thế kỷ. Đối thẳng vào là tỉnh hạt nào. Tuân theo lệnh này. TS. Phạm Văn Sanh. Nguồn cội cư dân. Căn cứ vào thuyền đi. Đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ). Trong năm Minh Mạng thứ 19 (1838) có 3 tờ tấu trình.
Về sản vật. Biền binh ở kinh kì thẳng tiến đến đảo Hoàng Sa để do đạc thủy trình (theo các bản dịch của các ông Dương Quỳnh – dịch tháng 3 năm 1999; Võ Hiển Đạt. Quyển 204. Thủy thủ đến số lượng binh thuyền đi Hoàng Sa vào các những năm ba mươi của thế kỷ 18.
Nên vào tháng 6 năm Minh Mạng thứ 16 (1835). Dày 1 tấc. Biền binh. Chính sách phát triển kinh tế xã hội. Những di tích can dự đến đội Hoàng Sa. Ngay từ thời đầu chúa Nguyễn. Riêng về hoạt động của đội Hoàng Sa.
Phạm (Văn). Hoặc do các dòng họ cung cấp. Chứ không phải chỉ có 3 thuyền như trước đây một đôi người đã suy đoán.
Phó vệ úy Thủy quân Nguyễn Văn Lân ở tổng Bình Châu. Có thể suy ra. Thủy quân. 2004. Bính Thân. H. 867). Trước hết đó là những biên chép của Nội các triều Nguyễn trong “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”.
Vua Minh Mạng sai Suất đội Thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền cùng 10 bài gỗ. Vào tháng giêng năm Minh Mạng thứ 17 (1836). Binh phu đi Hoàng Sa bị gió bão đánh toang hoang nên đến tháng 7 năm Minh Mạng thứ 20 (1839) mới “lục tục” về đến kinh thành. Ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835). Và cũng nhờ các tài liệu này mà chúng tôi biết được họ là những người thuộc đời thứ mấy trong gia phả của các dòng tộc Võ (Văn).
Bản quán có trong văn bản cổ mà chúng tôi đã nêu. Nguyễn Xuân Diện. Chúng tôi còn hiểu thêm về việc phường An Vĩnh và phường An Hải được tách ra khỏi xã An Vĩnh và An Hải trong đất liền vào lúc nào.
Đến các tài liệu có từ 150 năm đến 200 năm. Huyện Lý Sơn truyền đời giữ giàng tròn 175 năm qua đã giúp chúng ta xác lập thêm một số tính danh. Đó là về thời kì: Hằng năm cứ vào hạ tuần tháng giêng là các phái viên. Nhưng qua tra và qua thực địa.
Lần theo chính sử. Quan tỉnh Quảng Ngãi tấu trình về việc cho miễn thuế cho 2 chiếc “bổn chinh thuyền” đã đưa quân lính đo giáp vòng quần đảo Hoàng Sa từ tháng 3 đến hạ tuần tháng 6. Võ Văn Công…. Thứ ba. Lý Sơn. Trong số hàng nghìn trang tài liệu bằng Hán Nôm mà chúng tôi sưu tầm được.
Đoàn thuyền đi Hoàng Sa lần này cho biết. Còn biên chép thêm rằng.
Chính năm 1834 vua Minh Mạng đã sai lính tráng đi dựng miếu và lập bia ở Hoàng Sa.
Thời Tây Sơn. Là các địa danh. Có khi chỉ nói về việc mua bán đất đai. Chiều cao. Thuế khoá. Lâm Dũ Xênh. Nhà vua đã ra chỉ dụ thưởng phạt cho những người đi Hoàng Sa vào năm này (trong đó có ghi phạt Phạm Văn Nguyên và những viên giám thành 80 trượng vì tội trì hoãn thời kì đi Hoàng Sa.
Sách “Đại Nam thực lục” ghi: Ngoài số binh thuyền ở kinh kì phái vào. Phạm (Quang). Ngoài những điều đã nói ở trên.
Vẽ thành bản đồ. Là về số lượng binh thuyền. Đối chênh chếch là tỉnh hạt nào.
Như các tài liệu có từ thời Cảnh Hưng (1740- 1786). Bình dị thế nào.
Khi thuyền đi đến cũng xét xem xứ ấy chiều dài. Các quan ở Nội các triều Nguyễn. Thành thử. Nội dung văn bản cổ của dòng tộc Đặng hoàn toàn trùng khớp với chính sử của quốc gia Việt Nam. Thiệu Trị (1841 – 1847). Phủ Tư Nghĩa. Đặc biệt là về những người đi lính Hoàng Sa. Ở một số trang khác. Tức lúc Lê Quý Đôn theo lệnh của vua Lê - chúa Trịnh vào làm Hiệp trấn Thuận Hóa.
Vua Minh Mạng sai Bộ Lễ chọn địa điểm ở cửa biển Thuận An đặt đàn cúng tế tam sinh nhằm lạy tạ thủy thần. Nội dung trùng khớp thứ nhất. 1835. Cùng với những trang ghi chép của các sử gia phong kiến Việt Nam. Tr. Sách này còn cho biết thêm. Tấu trình lên cho vua của các đình thần như Bộ Công.
Phạm (Văn). Xác lập thông tin mà văn bản này có ghi chép so với chính sử. Hoa Diêm. Những biên chép của Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” và “Hoàng Việt địa dư chí”. Về di sản văn nghệ dân gian mà không dễ gì trong một thời gian dăm ba năm có thể lượm lặt hết.
Thì cũng chính trực nhìn nhận rằng. Tìm về châu bản Như đã tả ở trước. Ta thấy có một số sự kiện lịch sử liên tưởng đến nội dung của văn bản cổ này. Chánh đội trưởng Thủy quân Nguyễn Văn Nhiễu ở An Mô châu. Thư tịch bằng chữ Hán của các sử gia. Thưởng Võ Văn Hùng. Tuyển thêm binh phu giỏi nghề đi biển.
Xin được không trích dẫn lại. Chiều rộng. Nguyễn Đức Tập. Tuồng như hồ hết đều có giá trị.
Và cũng từ những điều đó cho phép ta khẳng định thêm một lần nữa. Làng An Vĩnh. Nhất nhất nói cho rõ. Thủy thủ dưới thời vua Minh Mạng. Biền binh xuất quân ở đế kinh. Dù có tài liệu không còn nguyên lành. Bộ Hộ. Đã phái vẽ bản đồ mà hình thế nó xa rộng. Nguyễn Tấn An. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ… đều có biên chép.
Đây là sự kiện mà hầu hết các bộ chính sử của triều Nguyễn. Bởi nhờ các tài liệu này mà chúng tôi hiểu biết hơn về lịch sử. Đặc biệt là những tài liệu. Trường Sa thuở trước. Sách “Đại Nam thực lục”. Ngoài những trang ghi chép về sự kiện đi Hoàng Sa vào các năm 1834. Không chỉ can dự đến ông Võ Văn Hùng có ghi trong văn bản cổ của dòng họ Đặng mà còn ghi chép khá cụ thể về việc số lượng các hòn đảo trong 4 nơi thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Bản quán của những người đi lính Hoàng Sa. Nhưng không chỉ trùng khớp với những trang ghi chép trong các bộ chính sử của Việt Nam.
Nội dung văn bản cổ của dòng họ Đặng còn trùng khớp với nhiều nguồn tài liệu. ; Xác định được bản quán của những người đi Hoàng Sa; xác định được danh tiếng của những cai đội Hoàng Sa như Cai cơ thủ ngự Phú nhuận hầu Võ Văn Phú. 1836. Bởi nhiều trang biên chép trong “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”. Đặc biệt trong châu bản của triều Nguyễn thời vua Minh Mạng.
Mới chỉ được 1 nơi… Hàng năm nên phái người đi thăm dò cho khắp để thuộc đường biển.
Phái viên Hoàng Sa là Suất đội Thủy sư Phạm Văn Biện cùng thủy quân.
Hồ hết những trang biên chép của các sử gia Việt Nam viết về hoạt động của đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải (bao gồm cả Trường Sa) ít nhiều cũng đã kế thừa. Họ đã nhờ thủy thần cứu giúp. Đã cho chúng ta hiểu hơn về sự kiện đi Hoàng Sa hằng năm của những phái viên. Về phong tục tập quán. Còn một nơi không đi được vì gió đang mạnh nên xin để cho năm sau đi tiếp.
Chỉ căn cứ theo các đoạn biên chép nêu trên cũng đã thấy nội dung văn bản cổ của dòng tộc Đặng là hoàn toàn trùng khớp với chính sử.
Thủy quân Chánh đội trưởng Suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh đi Hoàng Sa coi xét.
Tờ tấu của Bộ Hộ ngày 11 tháng 7 cũng năm Bính Thân (1836) cho xin thanh toán lương thực cho dân phu đi Hoàng Sa. Từ thời kì. Thủy quân suất đội Phạm Văn Nguyên.
Nguyễn Văn Mạnh. Giai thoại. Hòn nào. Nguyễn (Văn)… trên đất đảo Lý Sơn lẫn ở vùng cửa biển Sa Kỳ. Mộ Hoa…vốn hiện nay không còn đầy đủ các thành tố như trước. Đem về dâng trình” (tr. Trường Sa trong các bộ chính sử… Và như chúng tôi đã nói. Số lượng biền binh. Từ cửa biển nào ra khơi. Cũng là tờ tấu trình của Bộ Công ngày 21 tháng 6 năm (1838) cho biết: chỉ dẫn viên đi Hoàng Sa là Võ Văn Hùng (người được ghi trong văn bản cổ của dòng tộc Đặng là lo việc tuyển binh phu và đã tuyển chọn đà công Đặng Văn Siểm) đã cung cấp thông tin là quần đảo Hoàng Sa có quờ 4 nơi cần khảo sát; lần đi năm này (1838) chỉ đi được 3 nơi.
Đây là tờ tấu trình khôn xiết đặc biệt. Tính ước được bao nhiêu dặm. Nội dung văn bản cổ mà dòng tộc Đặng làng An Hải. Cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Những cái tên: Lệ Thủy Đông Nhị. 120). Thì trong số đó có nhiều tài liệu vốn có niên đại cách đây hơn 200 đến 250 năm. 1 bản đồ chung. Danang.
Đó là Tờ tấu của Bộ công ngày 2 tháng 4 (nhuận) cho biết việc hoãn thi hành công vụ đi đo giáp vòng quần đảo Hoàng Sa trong tháng 3 vì mưa gió kéo dài. Nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy. Khảo sát và vẽ được 3 bản đồ riêng. Có lẽ. Cốt sao mỗi thuyền có được 8 người. Những biên chép của Nguyễn Thông trong “Việt sử cương giám khảo lược”… Sở dĩ ta xem văn bản cổ của dòng họ Đặng có sự trùng khớp về nội dung so với các tài liệu này.
Có bãi ngầm. Cảnh Thịnh (1793 – 1801). Các biền binh và dân phu đi theo (Tập 5. Trần…. Vì sao người Lý Sơn có những năm không đóng thuế tại Sa Kỳ mà chở sản vật.
Tờ dụ ngày 13 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837) trong Châu bản Minh Mạng tập 57 cho biết việc sai các giám thành.
Về việc bán đoạn đất đai để có điều kiện thi hành công vụ ở quần đảo Hoàng Sa vào năm thứ mấy. Mặt khắc chữ: “Minh Mạng thập thất niên. Phải tường tất đo đạc. Vốn được soạn vào năm 1776. Nguyễn Thụ ở phường An Vĩnh. Phương hướng nào. Số lượng các hòn đảo đã được đo vẽ trong năm này. Thủy quân ở đế đô đến và đã phái Võ Văn Hùng. Quần đảo Hoàng Sa có tuốt luốt 25 hòn. Những câu chuyện kể. Phái viên và thủy quân biện binh cùng giao kèo cho thuyền đến Quảng Ngãi để đi nhanh đến đảo Hoàng Sa.
Nguyễn Thông không khác mấy với các bộ chính sử triều Nguyễn như “Đại Nam thực lục”. Cắm mốc chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Ngay lập tức vua Lê. Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến. Châu bản mà giờ đây chúng tôi còn biết thêm nhiều điều khác. Bộ Công tâu rằng: “Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là trọng yếu. Sách “Đại Nam thực lục”. Châu bản tập Minh Mạng số 54 cho biết.
Lễ cúng việc lề. Nguyễn. Thứ nhất. Nội dung văn bản cổ của dòng họ Đặng trùng khớp với những tài liệu cổ khác hiện còn trên đất đảo Lý Sơn mà các dòng họ còn lưu giữ. Nhìn từ Lý Sơn và đi dọc biển Quảng Ngãi Trong hàng chục năm qua. Phương hướng nào. Thứ hai. Nhưng vì sóng to gió lớn không làm được. “Quốc triều chính biên toát yếu”. Chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu.
Thứ hai. Quyển 122 của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép về những sự kiện lịch sử vào tháng 3 năm Minh Mạng thứ 15 (1834).
Không phải cả thảy đều là biên chép về hoạt động của đội Hoàng Sa. Như “Đại Nam thực lục”. Để đến cứ hạ tuần tháng 3 hàng năm cùng với phái viên. Tiêu biểu là ở các tộc họ Võ (Văn).
Như Nguyễn Văn Giai. Chiều ngang. Những lễ thức. Đó là các tờ phúc tấu. Là những người được cử đi Hoàng Sa có trong văn bản của dòng họ Đặng. Dựng bia đá đảo Hoàng Sa (tr. Tờ tấu trình thứ ba năm 1839 là tờ tấu trình của tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 19 tháng 7. Chúng ta càng thêm khẳng định độ xác thực trong văn bản cổ của dòng họ Đặng khi biên chép về các địa danh này.
Trước hết phải nói đến nguồn tài liệu bằng Hán Nôm. Lại. Mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng chọn phái biền binh thủy quân và vệ giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô. Hôn nhân hoặc có khi chỉ là đơn kiện tụng. 532). Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân. Năm Bính Thân (1836). Chúng tôi đã tìm về làng An Vĩnh.
Quan Bố chánh và Án tỉnh Quảng Ngãi làm bằng cấp chiếu theo tháng trước.
Chuẩn theo lời tấu của Bộ Công. Hỏi vì sao. Còn những ngôi mộ chiêu hồn. Hay các sách của Phan Huy Chú. Đặc biệt là châu bản dưới thời vua Minh Mạng. Hải vật có trên đảo Lý Sơn và những nơi khác sang trọng nhiều thế kỷ.
Đá ngầm hay không. An Hải trên đất đảo Lý Sơn và nhiều nơi nơi khác dọc ven biển Quảng Ngãi. Sai Cai đội Thủy quân Phạm Văn Nguyên đem thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi. Bình Định vận chuyển nguyên liệu đến dựng miếu.
Những câu ca dân gian được lưu truyền…mà ở đây chưa có dịp đề cập cũng là những chứng cớ khác khôn xiết sống động về quá trình hoạt động của đội Hoàng Sa.
Tấm bản đồ do Đậu Bá Công Đạo vẽ từ thế kỷ XVII với dòng chữ "Bãi Cát vàng" - thể hiện quần đảo Trường Sa. Các thủy thủ Phạm Quang Thanh. Ở Quảng Ngãi (lẫn Bình Định) còn chuẩn bị thêm 3 – 4 chiếc thuyền nhẹ của dân địa phương (mà ở đây văn bản cổ họ Đặng cho biết tỉnh Quảng Ngãi năm 1834 đã chuẩn bị 4 thuyền.
673). Rõ ràng là các sự kiện được ghi trong nội dung của văn bản cổ không chỉ trùng khớp với chính sử mà còn trùng khớp với các trang ghi chép trong các tài liệu cổ khác. Lê Hạng dịch vào tháng 4 - 2009). Đã bổ sung vào những trang ghi chép về chủ quyền của Việt Nam tại 2 quần đảo Hoàng Sa.
Nhưng theo chúng tôi. Các quan đầu tỉnh…. Hải vật ra tận kinh kì giao nộp?… Cùng với sự hiểu biết đó chúng tôi còn phát hiện thêm tiếng tăm những Cai đội khác. Tự Đức (1848 – 1883)…. An Hải tại vùng cửa biển Sa Kỳ. Xét ngày xuất hành. Bắt 2 tỉnh Quảng Ngãi. Rộng 5 tấc. Phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân (1836) cho Phạm Hữu Nhật đi cắm cột mốc.
Sách này cũng cho biết. Lập đền miếu. Chung cuộc. Trong đó có 1 thuyền dành riêng cho ông Võ Văn Hùng đi với 8 thủy thủ ở tỉnh Quảng Ngãi như chúng tôi đã nêu tên ở bài trước). Gov. Vn. Đệ nhị kỷ. Đã cùng ngồi thâu đêm để được nghe hát những bài dân ca còn lưu truyền… đã giúp cho chúng tôi hiểu hơn về lịch sử hình thành. Đi từ năm trước. Để đến thượng tuần tháng 2 là đến Quảng Ngãi và đến hạ tuần tháng 3 là đi Hoàng Sa.
Nội dung văn bản cổ dòng họ Đặng trùng khớp với những trang biên chép trong châu bản Triều Nguyễn. Về nguồn tài liệu. Tộc phả. Minh Mạng (1920 – 1840). /. Cai đội Phạm Quang Ảnh. Nguyễn Đăng Vũ Nguồn: hoangsa. Các địa danh thời trước.
Và được vua ưng chuẩn bằng mực đỏ. Nhờ thêm một lần đi tìm nguồn gốc của những người đi Hoàng Sa trong văn bản cổ của dòng tộc Đặng. Huyện Bình Sơn…là những người đã từng đảm nhận sứ mạng linh ở lãnh hải Đông của đất nước từ thời nhà Nguyễn.
Có ghi: “Đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thủy quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ” (Nxb Giáo dục. Tr. Thậm chí có những chỗ gần như nguyên văn một số sự kiện mà nhà bác học Lê Quý Đôn biểu lộ trong bộ sách “Phủ biên tạp lục” nổi tiếng. Nhưng đó cũng chỉ là việc xác lập thông báo qua nguồn tư liệu Hán Nôm. Biền binh hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi đo vẽ bản đồ.
“Quốc triều chính biên toát yếu”. Mỗi bài gỗ dài 5 thước. Những gì chúng tôi tìm thấy được trong các nhà thờ tộc họ. Như thời Gia Long (1802 – 1819). Dựng bia chủ quyền.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét